Tắc mạch phổi

Pulmonary embolism

 


ecomedic - he sinh thai y te - hoi bac si mien phi - tong quan

Tắc đột ngột, một phần hoặc hoàn toàn một động mạch phổi, hoặc tắc một hoặc nhiều nhánh của động mạch này bởi cục máu đông.

Nhồi máu phổi là tình trạng hoại tử của vùng phổi bị thiếu máu do nghẽn mạch phổi.

ecomedic - he sinh thai y te - hoi bac si mien phi - trieu chung

THỂ NHẸ: những trường hợp nghẽn mạch phổi nhỏ, không bị nhồi máu, thường tự khỏi mà không nhận thấy hoặc bị che lấp bởi những diễn biến sau mổ khác. Ở bất cứ bệnh nhân nào nằm liệt giường hoặc những đối tượng nào có những yếu tố thuận lợi kể trên, mà thấy có những triệu chứng và dấu hiệu sau: đau màng phổi, nhịp thở nhanh, nhịp tim nhanh thoáng qua, giảm huyết áp trong thời gian ngắn (thỉu), có một đợt loạn nhịp tim, ho, hoặc sốt nhẹ, thì đều phải nghi ngờ là đã bị nghẽn mạch phổi. Tình trạng lo lắng và giãy giụa có thể nổi lên hàng đầu. Nhưng, nghẽn mạch phổi cũng đôi khi chỉ biểu hiện bởi triệu chứng sốt nhẹ không rõ nguyên nhân.

NGHẼN MẠCH PHỔI LỚN TRUNG TÂM: đau sâu ở sau xương ức với khó thở và thở nhanh, nhịp tim nhanh, tím tái, hoảng sợ, giảm huyết áp tiến triển tới ngất và tình trạng sốc. Sốt và ho ra máu xẩy ra muộn. Các tĩnh mạch cảnh bị ứ huyết trong trường hợp suy tâm thất phải.

NGHẼN MẠCH PHỔI NGOẠI VI (MẠCH MÁU NHỎ CỦA PHỔI): nhịp thở nhanh, nhịp tim nhanh, đau kiểu đau màng phổi, tăng lên khi thở, sốt, đôi khi ho ra máu, nghe phổi thấy tiếng cọ và/hoặc dấu hiệu tràn dịch màng phổi, hạ huyết áp.

NHỒI MÁU PHỔI: những dấu hiệu đầu tiên cũng là dấu hiệu của nghẽn mạch phổi, tiếp theo là sốt, ho ra máu, với đờm màu rỉ sắt, nghe phổi thấy tiếng cọ màng phổi và/hoặc những dấu hiệu của tràn dịch màng phổi, chọc dò màng phổi rút ra được dịch có lẫn máu. Nhồi máu phổi có thể xẩy ra tuy không có huyết khối sâu, đó là trường hợp nhồi máu phổi xẩy ra trong những cơn tan huyết của bệnh hồng cầu hình liềm và trong trường hợp giảm oxy-mô cấp tính (lên độ cao).

ecomedic - he sinh thai y te - hoi bac si mien phi- nguyen nhan

Trong đại đa số trường hợp, có nhiều cục máu đông, nằm rải rác ở trong những nhánh nhỏ của động mạch phổi trong vùng ngoại vi (ở xa động mạch phổi chính). Những cục máu đông, nói chung, xuất phát từ viêm tĩnh mạch huyết khối ở những tĩnh mạch sâu thuộc vùng bắp chân (vùng cẳng chân sau), hoặc từ những tĩnh mạch chậu-đùi. Viêm tĩnh mạch huyết khối ở những tĩnh mạch nông và những huyết khối tách ra khỏi thành tim phải hiếm khi là nguyên nhân gây ra nghẽn mạch phổi. Nghẽn mạch phổi hiếm khi đơn độc (hiếm khi chỉ có một chỗ bị tắc), mà trái lại thường tràn lan rải rác ở nhiều vị trí khác nhau trong cả hai phổi.

Hiếm hơn nữa, có thể xẩy ra nghẽn các tiểu động mạch và các mao mạch thuộc động mạch phổi bởi các bóng không khí (xem: nghẽn mạch do khí), bởi những hạt mỡ nhỏ (xem: nghẽn mạch do mỡ), do nước ối hoặc những mảnh nhỏ của ung thư rau thai.

Nhồi máu phổi lại thường hay- thấy trong trường hợp bệnh tim bẩm sinh kết hợp với tăng huyết áp động mạch phổi hoặc với bệnh hồng cầu hình liềm.

ecomedic - he sinh thai y te - hoi bac si mien phi - huong dieu tri

CÁC BIỆN PHÁP TOÀN THÂN: nghỉ ngơi và liệu pháp oxy khi bệnh nhân bị giảm oxy-huyết. Sử dụng thận trọng những thuốc giảm đau trong trường hợp đau màng phổi (đau ngực) dữ dội.

CÁC THUỐC CHỐNG ĐÔNG MÁU

Heparin chuẩn: cho theo đường tĩnh mạch cứ 4-6 giờ một lần, hoặc truyền tĩnh mạch liên tục bằng bơm tiêm với lưu lượng hằng định thì tốt hơn, vì cho phép duy trì thời gian cephalin- kaolin luôn gấp khoảng 1,5 đến 2 lần giá trị đôl chứng (bình thường) của thời gian này. Liều lượng trung bình của heparin là 500 đơn vị quốc tê7kg/ngày, liên tục trong 7-10 ngày.
Những thuốc chống đông máu dạng uống: bắt đầu từ ngày thứ ba để tránh nguy cơ giảm tiểu cầu do heparin gây ra. Những thuốíc này phải cho ít nhất trong suốt thời gian ba tháng sau khi phát hiện nghẽn mạch phổi. Liều lượng các thuốc chống đông máu dạng uống phụ thuộc vào diễn biến của thời gian Quick, và phải được điều chỉnh sao cho thời gian này luôn ở giữa 2 và 3 INR.
Chống chỉ định heparin trong trường hợp nghẽn mạch nhiễm khuẩn.
Heparin phân tử lượng thấp có vẻ như có hiệu quả tương tự như heparin chuẩn.
THUỐC TAN HUYẾT KHỐI: dành cho những trường hợp nghẽn mạch phổi lớn, nhất là khi có hạ huyết áp, và cho chậm nhất là 2 ngày sau khi những triệu chứng nghẽn mạch phổi bắt đầu xuất hiện. Trong những trường hợp rất nặng, có vẻ như điều trị bằng những thuốc tan huyết khối thì tỷ lệ tử vong thấp hơn so với tỷ lệ tử vong khi điều trị bằng heparin, và chắc chắn là thấp hơn so với tỷ lệ tử vong khi điều trị bằng thủ thuật cắt bỏ huyết khối cấp cứu. Dưới tác động của thuốc tan huyết khối, chụp nhấp nháy tưới máu phổi cho thấy có cải thiện nhanh chóng, huyết áp động mạch phổi trở lại bình thường nhanh hơn và di chứng tăng huyết áp động mạch phổi hiếm xẩy ra hơn. Tuy nhiên, trong những trường hợp không nặng lắm thì chưa có chứng minh là điều trị bằng thuốc tan huyết khối có tỷ lệ tử vong thấp hơn so với điều trị bằng heparin. Những biện pháp điều trị này cũng phải thực hiện ở một cơ sở chuyên khoa sâu. Người ta sử dụng streptokinase, urokinase hoặc alteplase truyền tĩnh mạch trong vòng 12 đến 24 giờ. Trước khi truyền thuốc tan huyết khối cũng nên cho corticoid để phòng ngừa tai biến dị ứng. Nếu một thuốc tan huyết khối này không cho kết quả thì thay bằng thuốc khác. Sau khi đã làm tan huyết khối, người ta cho heparin với liều thông dụng. Thuốc tan huyết khối có chống chỉ định trong những trường hợp sau đây:

Tai biến mạch máu não mới xẩy ra chưa được 6 tháng.
Tăng huyết áp động mạch nặng và kém đáp ứng với điều trị bằng thuốc hạ huyết áp.
Chấn thương nặng, phẫu thuật lớn chưa được 10-15 ngày.
Cơ địa chẩy máu.
Loét dạ dày-tá tràng đang tiến triển.
Sau khi đẻ.
TÌNH TRẠNG SỐC: cho dopamin hoặc dobutamin với liều thông dụng.

TRÀN DỊCH MÀNG PHổI: nếu nhiều và gây khó thở thì phải chọc hút.

ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA

Cắt bỏ huyết khối cấp cứu trong khi chạy tuần hoàn ngoài cơ thể (tim phổi nhân tạo): được chỉ định trong trường hợp nghẽn mạch phổi lớn với tình trạng sốc và thiểu niệu hoặc vô niệu. Một số nhóm phẫu thuật viên thích cắt bỏ huyết khối ngay, một số khác thích can thiệp ở thì hai, sau khi điều trị bằng thuốc tan huyết khối. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong do cắt huyết khối cao hơn so với tỷ lệ tử vong do điều trị bằng thuốc tan huyết khối.
Ngăn đường tĩnh mạch chậu-chủ:
Thực hiện ngăn một phần dòng máu trong tĩnh mạch chủ dưới bằng cách đặt một bộ phận lọc bằng kim loại , hoặc đặt kẹp bằng chất dẻo, đặt dù, thông qua mở ổ bụng hoặc qua đường tĩnh mạch cảnh. Biện pháp điều trị này được chỉ định nếu những thuốc chống đông máu không có hiệu quả hoặc có chống chỉ định tuyệt đối. Tuy nhiên, đặt một dị vật vào trong tĩnh mạch chủ có thể lại gây ra những đợt huyết khối nghẽn mạch mới và gây phù chi dưới.

+ Thắt hoàn toàn tĩnh mạch chủ dưới chỉ được chỉ định trong những trường hợp nghẽn mạch nhiễm khuẩn tái phát nhiều lần. Biện pháp này để lại di chứng phù hai chi dưới.

 

Danh sách phòng khám

Danh sách bác sỹ